Kỹ Năng Sinh Tồn Cho Mọi Lứa Tuổi |Tự học suốt đời
Phút dành cho con

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:34' 20-03-2024
Dung lượng: 603.9 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:34' 20-03-2024
Dung lượng: 603.9 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
Lời mở đầu
Bóng cha
Giới tính nam và đàn ông
Sức mạnh
Bài học về cái tôi
Tri thức và học hành
Công việc
Tài sản
Sẻ chia là một điều kỳ diệu
Tiền bạc và sự giàu có
Ma túy và bia rượu
Bi kịch và nỗi đau
Giao chiến
Chiến tranh
Hành trình tâm linh
Cô đơn và độc lập về tinh thần
Thể thao và thi đấu
Du hành
Những khoảnh khắc đặc biệt
Sức mạnh của sự quan tâm
Sự kỳ diệu của nghệ thuật
Phụ nữ và đàn ông
Điều kỳ diệu của tình yêu
Bí ẩn của tình dục
Nỗi ám ảnh của trái tim
Hôn nhân
Sự chung thủy
Tình cha con
Tuổi già
Cái chết
Lời kết
ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Cho con trai cha, Nick,
và tất cả những cậu con trai khác.
“Khi sinh ra chúng ta mang giới tính nam. Chúng ta phải học cách để trở thành một người đàn
ông.”
Lời giới thiệu
Tôi đã không định viết quyển sách này. Thế giới đã tồn tại quá nhiều giáo điều và các quan
điểm cá nhân, và tôi không có ý định bổ sung tên mình vào danh sách dài dằng dặc những con
người như vậy.
Vậy mà mọi thứ đã thay đổi khi tôi bước vào tuổi trung niên, khi tôi có một cậu con trai. Đột
nhiên, những thử thách tôi phải vật lộn trong suốt thời gian qua và vô vàn câu hỏi tôi đã chôn
vùi từ lâu bỗng hiện trở lại trong đôi mắt của con trai tôi. Tôi thấy trước mặt tôi là một cậu bé
đang phải lần dò tìm hướng đi riêng giữa mớ hỗn độn của cuộc sống. Lẽ dĩ nhiên, tôi phải gánh
vác trọng trách trở thành người dẫn đường cho con trai mình.
Việc dẫn đường của tôi đến giờ vẫn diễn ra khá thuận lợi. Cuộc sống của con trai tôi cho đến
nay vẫn chưa vượt ngoài tầm kiểm soát của nó. Tôi có thể nắm tay và dẫn đường cho con tôi.
Nhưng rồi đến một lúc nào đó nó cũng phải tự tìm đường đi cho bản thân. Vậy thì, nó sẽ tìm ở
đâu những bàn tay để dẫn lối cho mình?
Tôi nhìn mọi thứ và cảm thấy lo lắng. Cuộc sống là một mớ hỗn loạn bắt nguồn từ những
định kiến, quan điểm và các lời buộc tội trái ngược. Loài người ở khắp mọi nơi nhận ra rằng
thế giới mà chúng ta tạo ra cũng chính là thế giới mà chúng ta dần đánh mất, rằng những giấc
mơ tươi đẹp nhất và những nỗi sợ hãi kinh hoàng nhất đều thấp thoáng nơi chân trời. Tuy
nhận thức rõ ràng và sâu sắc về tất cả điều này, nhưng dường như chúng ta vẫn im lặng; chúng
ta vẫn cứ để cho niềm hy vọng dẫn mình đi tới, nhưng nhiều khi cũng để mặc những nghi ngờ
giữ mình đứng lặng thinh.
Tôi không thể chịu đựng sự lặng im này hơn nữa. Tôi muốn con trai mình trở thành một
người đàn ông có một trái tim thật lành lặn, nó phải tiến vào thế giới xung quanh với một tâm
hồn rộng mở và một cái chạm tay thật nhẹ nhàng. Tôi muốn nó trở thành người đàn ông có
lòng tin, nhưng không phải là người đàn ông hay phán xét. Tôi muốn con trai tôi khám phá
những chân trời đạo đức để nó sẽ không phải vô ý làm tổn thương bản thân nó hay những
người xung quanh. Để trở thành một người đàn ông như vậy, con tôi cần được nghe những lời
nói cảm thông, chia sẻ thực tế về những vấn đề nó sẽ gặp phải trên bước đường trưởng thành.
Vì vậy, tôi đã nỗ lực để gửi đến con trai mình một tiếng nói.
Trong quyển sách này, tôi đề cập đến những kỹ năng và trải nghiệm của mình: tình yêu dành
cho ngôn ngữ, niềm tin vào tầm nhìn tiến bộ của loài người, sự phức tạp của những nỗi sợ hãi,
nghi ngờ và thất vọng về thế giới mà chúng ta đang sống; nhiều năm học hành, hàng ngàn dặm
đi xa, một niềm tin vào những điều kỳ diệu vô tận của cuộc sống quanh mình.
Nhưng trên tất cả, tôi muốn chia sẻ với con trai mình và tất cả những cậu con trai khác về
lòng tin vào một thế giới tốt đẹp hơn.
Tôi muốn mang đến cho những cậu con trai cái nhìn của một người đàn ông đã nhận thức
được về thân phận và hiểu rõ về tiềm năng của con người. Và trong quá trình này, tôi cũng
muốn đem đến một cách nhìn khác cho những ai đang tìm kiếm một điểm tựa thích hợp để
quan sát thế giới bao la và kỳ diệu đang hiển hiện trước mắt mình.
- Kent Nerburn
Lời mở đầu
Ước mong của cha
Cha viết cuốn sách này với tư cách một người cha. Con sẽ không hiểu được điều này có ý nghĩa
như thế nào cho đến khi con cũng có con trai. Con chưa thấy được niềm vui và tình yêu vô bờ
đằng sau trái tim của một người cha khi nhìn đứa con trai của mình. Con cũng chưa hiểu được
niềm hân hoan tột cùng đã khiến một người đàn ông muốn vượt qua bản thân để có thể đặt vào
tay con trai mình những điều tốt đẹp và hy vọng nhất.
Trở thành một người cha là đặc ân đồng thời cũng là một gánh nặng. Có những điều mà một
đứa con trai phải được tiếp nhận từ chính người cha của mình, nếu không thì nó sẽ chẳng bao
giờ được hướng dẫn một cách rõ ràng. Đó là những cảm nhận về tuổi trưởng thành, giá trị của
bản thân và trách nhiệm với thế giới xung quanh.
Nhưng mà, làm sao để truyền đạt những điều này bằng ngôn ngữ? Chúng ta đang sống ở thời
điểm thật khó để bộc lộ những lời nói xuất phát từ trái tim. Cuộc sống của ta đang bị vô vàn
những điều tầm thường che lấp, những nghĩ suy và lo toan cơm áo đời thường đã làm mất đi
những khoảng lặng trong tâm hồn.
Vì vậy, cha phải nói thật với con điều này. Cha không có lời giải cho tất cả những thách thức
mà chúng ta phải đối mặt. Nhưng cha hiểu những thách thức này. Khi cha nhìn con chiến đấu,
khám phá và nỗ lực tiến lên phía trước, cha như thấy hình ảnh mình đang được phản chiếu
trong đôi mắt và những gì con đang trải nghiệm.
Cha cũng như con, phải học cách để đi, để chạy, cả để vấp ngã. Cha cũng có mối tình đầu. Cha
đã trải qua cảm giác sợ hãi, tức giận cũng như phiền muộn, và có nhiều lúc cha đã thấy ấm áp
khi bàn tay ai đó đang đặt lên vai mình. Cha cũng đã từng rơi những giọt nước mắt cho niềm vui
và cho cả nỗi buồn.
Cha đã từng trải qua cảm giác cô độc trước cuộc sống và không thiếu những khoảnh khắc
muốn bùng cơn thịnh nộ. Có những lúc cha cảm thấy mình không còn đủ sức để bước tiếp trên
cuộc đời, cha bước qua mọi người một cách hờ hững, ngay cả với những người đang cần cha
giúp đỡ.
Nhiều lúc cha thấy mình làm được nhiều điều hơn mình được yêu cầu, nhưng cũng có lúc cha
cảm thấy mình là một kẻ bất tài và thua cuộc. Dường như trong cha vừa có ánh sáng của sự vĩ
đại đồng thời cũng có bóng tối của những tội ác lương tâm.
Bởi vì, cha cũng là một người đàn ông, giống như con vậy.
Mặt trời sẽ chiếu sáng trên đầu con giống như nó đã chiếu trên đầu cha, và những bài học
trong cuộc sống sẽ đến với con giống như đã đến với cha, mặc dù con đường phía trước và thời
gian phía trước của cha và con không như nhau.
Và đó là những điều cuốn sách này sẽ đề cập đến. Cha muốn thông qua cuốn sách này mang
đến cho con những bài học cha đã trải qua, nhờ đó con sẽ áp dụng được cho cuộc sống của mình.
Nhưng nó không có nghĩa là con sẽ giống cha. Cha thật sự hạnh phúc nếu con được là chính con.
Thời gian sẽ mang đến sự thật, và sự thật thì luôn vĩ đại hơn bất kỳ điều gì trên thế giới này.
Trở thành cha của con là niềm vinh hạnh lớn nhất trong cuộc đời cha. Trong phút chốc cha
cảm thấy như mình đã chạm tay vào những điều thần bí, và nó khiến cha thấy tình yêu đang
ngày một mênh mông hơn. Nếu cha chỉ có một điều ước, cha ước mong con sẽ mang theo tình
yêu đó bên mình. Cuộc sống này còn cần gì hơn thế?
Yêu con,
Kent Nerburn
Bóng cha
Cha lớn lên với hình ảnh của ông con trong tâm trí. Tất cả những tính cách cũng như cuộc
sống của cha đều có dấu ấn của ông con.
Cha nhớ tấm lưng mạnh mẽ của ông con khi ông làm việc muộn mỗi tối, nhổ cỏ, cào đất hoặc
sơn tường,… mồ hôi ướt đẫm chảy dọc tấm lưng.
Cha nhớ bàn làm việc của ông dưới tầng hầm, nơi mỗi dụng cụ đều được sắp xếp gọn gàng và
các hộp đều được dán nhãn phân biệt.
Cha nhớ những cơn giận dữ tột cùng của ông, và những lần trò chuyện ngập ngừng giữa hai
cha con về giới tính.
Cha nhớ ông con rất cần cù và kiệm lời. Nhớ ông đã nỗ lực như thế nào để thông qua những
cuốn sách đạo đức mà dạy cho cha những điều ông ngại cất thành lời.
Và cha nhớ niềm tự hào lặng lẽ của ông khi các con trưởng thành và bắt đầu cuộc sống riêng.
Những điều này ông con không nhớ nhiều đâu. Trí nhớ ông đã kém rồi. Người đàn ông từng
đọc vanh vách địa chỉ của Lincoln ở Gettysburg bây giờ còn không thể nhớ nổi các ngày trong
tuần. Bàn làm việc của ông đã lung lay nhiều, những dụng cụ lâu ngày không ai đụng đến nằm
xếp chồng đầy bụi bặm trong xó nhà. Người đàn ông mạnh mẽ từng là trụ cột của gia đình giờ
đây bỗng trở nên nhỏ bé, chậm chạp trong từng cử chỉ và vụng về trong mỗi bước đi.
Cha cảm thấy rất buồn vì điều này. Trong nỗi buồn còn có niềm lo sợ. Mỗi ngày trôi qua cha
càng nhận ra rõ hơn hình ảnh ông đã sống trong cha nhiều thế nào, và cái bóng ông phủ xuống
cuộc đời cha mới vĩ đại làm sao.
Tất cả chúng ta đều giống nhau: không ai chạy trốn khỏi hình bóng của người cha, ngay cả
khi hình bóng ấy tràn ngập nỗi sợ hãi, ngay cả khi nó không có tên hay không định hình rõ
ràng. Cho dù chúng ta đang cố gắng để cảm thấy xứng đáng với cha mình, hay để chứng tỏ một
điều gì đó, hoặc thậm chí để quên đi mọi ký ức về cha mình – cho dù sức ảnh hưởng của cái
bóng người cha ra sao, chúng ta cũng không thể phủ nhận sự tồn tại của nó.
Cha thật may mắn. Dù có giận dữ đến đâu hay cô đơn tận đáy lòng, ông cũng không bao giờ
làm tổn thương đến cha. Bàn tay ông luôn đặt lên vai để động viên mỗi khi cha cần.
Tuy nhiên không phải ai cũng có một người cha tốt như vậy. Nhiều người phải sống và chịu
đựng trong một môi trường đầy bạo lực, tàn nhẫn, đầy mùi bia rượu, và mỗi đêm họ thường
phải thu mình vào góc tối trong tiếng chai lọ bị đập vỡ. Hay cũng có người, ký ức về cha với họ
chỉ là khoảng không trống trải. Nhưng dù thế nào thì tất cả chúng ta đều có ảnh hưởng từ
những hình bóng này. Ta sẽ trở thành ai và ta hy vọng thành người đàn ông như thế nào, phần
lớn có liên quan đến hình ảnh người cha trong trái tim mỗi chúng ta.
Cha bỗng nhìn thấy hình ảnh ông con hiện ra trước mắt mình. Ông đang đứng trên hành lang
tranh tối tranh sáng ở một căn hộ. Cha đứng ngay phía sau ông, lúc đó cha chỉ là đứa trẻ 10 tuổi
đang sợ sệt, rụt rè nhìn về phía cửa chính. Bên cạnh hai cha con là một chiếc xe đạp. Chiếc xe
đạp này là một “tay đua màu tía” (cha và ông gọi nó như vậy) có phanh tay, có thể sang số và là
chiếc xe đẹp nhất mà cha từng nhìn thấy. Ông và cha đang mang chiếc xe trả lại cho chủ của nó.
Ông con đã tìm thấy chiếc xe đạp này trong một buổi đi dạo sớm trên bãi biển. Ông đã cất nó
trong ga-ra nhà, bọc một lớp vải phủ. Ông không cho cha chạy nó, vì ông bảo rằng nó thuộc về
người khác. Chiếc xe ở trong ga-ra nhà hàng tuần lễ trong lúc ông đăng quảng cáo trên tờ báo
địa phương để tìm chủ nhân của nó. Cha đã thầm mơ ước rằng sẽ không có ai gọi điện đến để
cha có thể trở thành người sở hữu chiếc xe đó.
Nhưng người chủ chiếc xe đạp đã gọi điện.
Ông nội gõ cửa. Có tiếng mở cửa ken két. Một người đàn ông xuất hiện, nhìn lướt qua hai cha
con và hướng về phía chiếc xe. Ông ta kéo chiếc xe đến phía cửa và kiểm tra. Cha và ông đứng
ngay bên, chờ đợi.
- Xe có nhiều vết trầy mới. - Người đàn ông nói.
Ông con không trả lời.
Người đàn ông tiếp tục xoay bánh, kiểm tra ghi-đông. Ông ta nhìn ông con như muốn kết tội.
Lúc đó cha chỉ muốn hét lên với ông ta rằng chả có vết trầy nào cả, rằng nó đã được giữ cẩn
thận trong ga-ra.
Người đàn ông đẩy chiếc xe vào nhà và lẩm bẩm: “Tôi nghĩ là nên cho ông một thứ gì đó”. Sau
đó ông ta mang ra một tấm sec nhàu nát và ném nó về phía ông con. Ông con đã trả lại tấm séc.
Ông ta nhìn chằm chằm vào hai cha con và sau cùng quay trở vào nhà để xem xét chiếc xe.
Ông và cha cũng quay ra. Trên đường đi, cha níu lấy áo ông hỏi:
- Tại sao chúng ta lại đối xử tốt với hắn ta vậy? Hắn ta thật vô ơn.
Ông con vẫn tiếp tục bước đi:
- Có thể một ngày nào đó, anh ta cũng sẽ đối xử tốt như vậy với một người khác.
Cha đuổi theo ông xuyên qua ánh sáng màu vàng rực. Hai cha con không bao giờ nhắc về
chuyện chiếc xe nữa.
Rồi hình ảnh này trở nên nhạt phai, lùi xa và bị thay thế bằng một hình ảnh khác.
Đó là hình ảnh của nhiều năm về sau. Lúc đó cha đang ghé thăm một nhà tù địa phương để
thực hiện một vài công việc hành chính lặt vặt. Lúc đang ngồi trong phòng đợi, cha bỗng để ý
thấy trên danh sách tù nhân có tên người học trò cũ của cha. Anh này bị bắt vì chứng nghiệm
rượu và phá hoại tài sản công cộng. Đây không phải là lần đầu tiên anh ta bị bắt.
Trước giờ cha vẫn luôn yêu mến người học trò này, một phần cũng vì hoàn cảnh của anh ta:
cậu ta là trẻ mồ côi. Sau đó, cha xin được gặp cậu ta.
Cha được đưa đến một căn phòng bằng xi-măng, loang lổ bên trong là thứ ánh sáng yếu ớt
của đèn huỳnh quang.
- Đợi ở đây nhé. - Người quản ngục nói.
Rồi ông ta dẫn người học trò vào.
- Chào Chris. - Cha nói.
Chris không trả lời. Đôi mắt cậu ta đầy sợ hãi.
- Người này hơi hung dữ nên phải nhốt một mình. Đợi một lúc để anh ta làm quen với ánh
sáng đã. Người quản ngục phân trần.
Chris nhìn cha. Môi anh ta run run.
- Làm ơn đừng để họ đưa tôi vào đây nữa. - Đôi mắt cậu ta trông giống hệt đôi mắt một đứa
trẻ đầy sợ hãi.
- Làm ơn! - Anh ta lặp lại một lần nữa. Cha chưa từng nghe Chris nói “làm ơn” với bất kỳ ai.
Cha nhìn Chris một lúc lâu. Cha chỉ nhìn thấy đôi mắt sợ hãi của cậu ta.
Cha liên hệ với người quản lý trại giam và trả tiền bảo lãnh cho Chris. Họ mang quần áo đến
cho cậu ta. Cha ký vào một vài tờ giấy và đưa cậu ta ra xe. Cha mua cho Chris một cái ham-bơgơ, sau đó chở cậu ta đến ngôi nhà mà cậu ta yêu cầu. Trên đường đi, Chris huyên thuyên với
cha đủ thứ chuyện, giọng nói đầy vẻ ngông cuồng và nghênh ngang không khác gì ngày trước.
Khi cha dừng xe lại, cậu ta ngay lập tức nhảy ra khỏi xe và nói: « Bye nhé ». Từ đó cha không
bao giờ gặp cậu ta nữa.
Ngày hôm sau cha kể cho một người bạn nghe về Chris. Bạn cha nổi giận:
- Không thể tin được cậu lại làm vậy. Cậu đã để nó ép buộc cậu, như nó đã ép buộc bao nhiêu
người khác. Lẽ ra cậu nên để nó chết dần chết mòn trong tù mới phải. Như vậy nó mới học
được bài học rằng không phải lúc nào cũng có thể khua môi múa mép được. Sao cậu lại có thể
ngốc nghếch đến vậy cơ chứ?
Cha nói:
- Có thể một ngày nào đó, anh ta cũng sẽ đối xử tốt như vậy với một người khác.
Bạn của cha lắc đầu và quay trở lại công việc của anh ấy.
Ở một nơi nào đó, cha biết ông con đang nhìn cha và mỉm cười.
Giới tính nam và đàn ông
Cha muốn kể cho con nghe đôi chút về ông con. Ông không phải là một người phi thường,
nhưng ông là một người tốt, luôn sống vui vẻ và sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi họ cần.
Vậy mà mười năm trở lại đây cha đã chứng kiến cảnh ông con đang dần đánh mất những
niềm vui trong cuộc sống. Bên cạnh việc suy giảm sức khỏe, ông dường như còn bị mất toàn bộ
ý thức về giá trị bản thân và không còn tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống nữa.
Điều gì đã xảy ra? Làm sao một người đàn ông từng khỏe mạnh lại trở nên ốm yếu như vậy?
Tại sao ông lại sớm bỏ cuộc khi cuộc đời vẫn còn ở phía trước?
Ông đã sống như một người đàn ông mà ông muốn trở thành - để tỏa sáng hơn, mạnh mẽ
hơn, kiếm nhiều tiền hơn. Ông vào đời bươn chải từ năm 16 tuổi, và những gì ông đạt được
dường như vượt hơn cả điều ông mong dợi. Ông đã tự khẳng định mình, tìm cho mình một chỗ
đứng trong xã hội và xây dựng nên một gia đình hạnh phúc. Điều gì đã khiến ông không đánh
giá cao những thành quả mình đạt được? Tại sao một người đàn ông khởi đầu từ con số không
và đạt được nhiều thành quả như ông lại cảm thấy mình không xứng đáng là một người đàn
ông?
Câu trả lời tuy khó nghe nhưng rất rõ ràng. Bởi vì ông con đã nhầm lẫn giữa việc mang giới
tính nam và là một người đàn ông.
Giới tính nam là một phần của hệ thống sinh học của chúng ta, bao gồm sức mạnh, sự thống
trị, sở hữu, cạnh tranh và hàng loạt đặc tính khác tồn tại trong thời kỳ mông muội – thời kì lấy
việc thống trị làm nền tảng cho sự tồn tại của loài người.
Điều này có nhiều điểm khác biệt so với việc là một người đàn ông. Một người đàn ông sẽ
mang những đặc trưng của giới tính nam và định hình chúng vào cuộc sống để giúp ích cho
đời. Đó là hành động mang tính phục vụ.
Thế giới khi ông con được sinh ra không cho phép ông nhìn thấy sự khác biệt giữa giới tính
nam và đàn ông. Ông đã phải tự đấu tranh để sống còn trong thế giới đầy biến động. Ông đã
chịu khổ cực từ khi mới sinh ra và sớm là một đứa trẻ mồ côi. Để có thức ăn ông phải làm việc
chăm chỉ, đánh đổi bằng chính sức lực của mình. Khi xảy ra chiến tranh với Đức quốc xã và chủ
nghĩa phát xít, ông phải cầm súng ra chiến trường. Chiến tranh kết thúc, ông con trở về tay
không, rồi sau đó xây dựng gia đình.
Từ tuổi ấu thơ, ông con đã phải sống trong một thế giới mà con người nếu muốn tồn tại thì
phải trở thành người chiến thắng. Vì vậy không có gì ngạc nhiên nếu những cảm nhận của ông
con về đàn ông gắn liền với sự thống trị và quyền điều khiển của giới tính nam.
Thế nên bây giờ, khi cơ thể ông không còn sức mạnh, cảm giác về sự thống trị và quyền điều
khiển đã bị thay thế bằng cảm giác phụ thuộc, ông cảm thấy cuộc sống không còn mục đích và
ý nghĩa. Đánh mất công việc, sức mạnh thể chất, khả năng giới tính cũng như khả năng kiểm
soát những chuyện xung quanh, người đàn ông trong ông như bị đánh bại.
Ông con là một người đàn ông thực thụ, cha cảm nhận được điều này vì là con trai của ông.
Cha nhìn thấy người đàn ông đó từng nhiều ngày không ngủ để giúp đỡ những người bị mất
nhà vì hỏa hoạn và lũ lụt. Cha nhìn thấy người đàn ông đó làm đến hai, ba công việc cùng một
lúc để có tiền mua quà Giáng sinh cho các con và luôn đặt nhu cầu của mình sau cùng. Cha nhìn
thấy người đàn ông đó đã mang sức mạnh của mình phục vụ cho sứ mệnh của sự quan tâm và
chia sẻ... Vì vậy mà trong mắt cha, không có gì có thể làm giảm bớt nam tính của ông con.
Ông là người đàn ông tuyệt vời. Nhưng ông không thể nhìn thấy điều này. Ông sống trong
thời điểm không có sự phân biệt giữa giới tính nam và đàn ông, vì vậy mà ông đã tự đo mình
bằng những chuẩn mực xưa cũ.
Nhưng bây giờ mọi việc đã thay đổi.
Con sinh ra ở một thế giới khác, thế giới sẽ mang đến cho con những món quà cũng như
những thách thức khác. Cái nhìn mới về người đàn ông không còn gắn chặt với biểu tượng của
một chiến binh. Những cách thức con tìm kiếm để thể hiện sức mạnh, sự điều khiển và phô bày
lòng can đảm sẽ không còn giống như việc con phải đương đầu với thế giới có những kẻ thù
như trước kia.
Hiểu một cách sâu xa hơn, con sẽ phải tìm đường đi cho riêng mình, sẽ không có một luật tục
nào dẫn dắt con cả. Ta không được dẫn đường để trở thành đàn ông, mà chúng ta phải tự tìm
con đường riêng của mình.
Khi cơ thể chúng ta bảo với ta rằng ta đã trưởng thành, đó là khi chúng ta đã nảy sinh ham
muốn và tham vọng không giới hạn. Ta nghĩ ta đã trở thành đàn ông, nhưng chỉ là giới tính
nam của ta đã phát triển đầy đủ. Vậy nên khi giới tính nam phát triển chưa đạt đến giá trị đạo
đức, nó đã sinh ra những tội ác trên thế giới.
Cha muốn con phải để ý đến sự khác biệt này khi con tiến vào cuộc sống. Chỉ mang giới tính
nam thì không đủ. Là một người đàn ông mới là điều con cần theo đuổi và là niềm vinh dự con
cần trân trọng. Cha không thể chỉ cho con cách để theo đuổi quyền lợi và xứng đáng với niềm
vinh dự này. Nhưng cha có thể giúp con hiểu rằng việc con trở thành người đàn ông như thế
nào sẽ bị hình mẫu về người đàn ông mà con cho là vĩ đại nhất chi phối.
Trong quá trình con hướng đến nhận thức về người đàn ông con muốn trở thành sau này,
những tiếng vang vọng của giới tính nam sẽ luôn văng vẳng bên tai con. Âm thanh của sự đấu
tranh, thống trị, những thèm khát nhục dục và tham vọng tiến xa hơn sẽ luôn thì thầm bên con.
Nhưng nếu con có thể thay đổi chúng, những thuộc tính bản năng này sẽ trở thành những
thước đo thật sự cho tuổi trưởng thành của con – đó là sức mạnh, tư cách và đạo đức; sự can
đảm, đức hy sinh và lòng tự tin của chính con.
Vì vậy, con hãy hiểu về những đặc tính nam giới của con và trân trọng chúng. Hãy sử dụng
chúng nhưng đừng để chúng lấn át con. Trên hết, đừng trở thành con mồi của những niềm tin
sai lầm rằng điều khiển và thống trị là đồng nghĩa với nam tính.
Hãy để sự vĩ đại của con thể hiện không chỉ qua khả năng được phát huy hết, mà còn là tấm
lòng nhân ái dành cho những người chung quanh. Bây giờ, thế giới cần những tấm lòng nhân ái,
chứ không phải là những hành động chiếm đoạt. Con hãy là một trong số những tấm lòng nhân
ái ấy.
Sức mạnh
Một ngày nọ, cha nhìn thấy một đám trẻ đang xô đẩy một cậu bé bên ngoài một cửa hàng địa
phương. Dù tỏ thái độ sẵn sàng đánh trả những kẻ tấn công mình, nhưng rõ ràng cậu bé đang
sợ hãi. Đám trẻ vây lấy cậu, chế giễu và thách cậu đánh lại chúng. Sau đó chúng nhảy lên người
và đánh cậu tới tấp.
Cuộc tấn công chỉ dừng lại khi một người đàn ông đi ngang qua ngăn chúng lại. Đám trẻ nhìn
ông ta rồi lẩn đi. Cậu bé được giải thoát nhưng chưa thực sự an toàn. Đám trẻ vẫn có thể sẽ đợi
để bắt nạt cậu vào một ngày khác, ở một nơi khác.
Cha không biết nguyên nhân của cuộc ẩu đả này. Nhưng cha chắc rằng chẳng có lý do gì đặc
biệt. Có thể cậu bé đó đã có một lời nói hay hành động làm phật ý đám trẻ. Qua cuộc ẩu đả, cha
nhận thấy rằng con người chúng ta dù sống trong xã hội nào cũng luôn muốn chứng tỏ cho
người khác biết về sức mạnh bản thân. Ý thức về sức mạnh thể chất này đã tồn tại trong hệ
thống sinh học của chúng ta như một điều đầy ý nghĩa, và ngay cả người vĩ đại nhất cũng cảm
nhận được sự chuyển động của nó sâu bên trong cơ thể. Đó là những tàn dư còn sót lại từ thời
kỳ săn bắn và tự vệ trước thiên nhiên, khi sức mạnh thể chất trở thành thước đo về sự thành
công của người đàn ông.
Chúng ta có thể nâng một vật cao hơn, mang vác được nhiều hơn, chạy nhanh hơn, làm việc
lâu hơn, chứng tỏ chúng ta giỏi hơn.
Chúng ta có thể đánh bại người khác, chứng tỏ chúng ta mạnh hơn.
Chúng ta có thể không rơi nước mắt ủy mị dù trải qua niềm vui hoặc nỗi buồn, chứng tỏ
chúng ta là người mạnh mẽ.
Tuy nhiên, thế giới bây giờ không còn bị đo bằng nguyên tắc thể hiện sức mạnh. Bây giờ
chúng ta cần sức mạnh tinh thần hơn sức mạnh thể chất.
Cha sẽ kể con nghe câu chuyện mà cha từng gặp.
Một lần, cha có hai chiếc vé xem hòa nhạc, nhưng cha không biết mời ai đi cùng.
Cuối cùng, cha quyết định lái xe đến một nhà điều dưỡng trong vùng. Cha lên phòng hộ lý ở
tầng 2, tìm gặp người hộ lý trưởng và nói về ý định của mình.
Các cô hộ lý đưa mắt nhìn nhau rồi bắt đầu nhắc đến những cái tên bệnh nhân, nào là Edna,
Florance, Joe… Sau vài phút họ dẫn cha đến phòng của Edna.
- Không, tôi không đi đâu. - Edna trả lời, vẻ e ngại.
Mọi người đi qua phòng Florence. Bà đang ngồi trên xe lăn, hai tay đặt lên vạt áo. Bà đã 80
tuổi, đôi mắt dường như đã bị lòa.
- Florence này, người đàn ông trẻ này có một cặp vé xem hòa nhạc tối nay. Ông ấy hỏi liệu bà
có muốn đi cùng không? - Cô hộ lý cất lời.
Cha đã bật cười vì câu nói của cô.
– Nhà điều dưỡng là nơi duy nhất mà tôi còn được gọi là “người đàn ông trẻ”. - Cha vui vẻ
đùa.
Florance hướng cặp kính dầy cộp của bà về phía cha:
– Chắc chắn rồi. - Bà nói. - Đi nào. Lâu lắm rồi ta không hẹn một ai.
Cha và Florence nói chuyện thêm một lúc về buổi hòa nhạc và những trở ngại bà có thể gặp
khi lên xuống xe ô-tô. Cha hẹn thời gian đến đón bà.
7 giờ 30 tối, cha quay trở lại nhà điều dưỡng. Florence đã mặc xong quần áo và đang ngồi
trên xe lăn trong bóng tối. Bà mang găng-tay bằng vải co-ton màu xanh chuối, tay nắm chặt
một chiếc bóp nhỏ. Cha chào các cô hộ lý và cả hai đi ra xe.
Mọi việc đã diễn ra tốt đẹp. Florence không gặp trở ngại gì khi lên xuống xe. Nhân viên tại
khu hòa nhạc đã giúp cha đưa Florence vào thính phòng và nán lại với bà một lúc trong khi cha
tìm chỗ đỗ xe.
Florence đã quyết định ngồi trên xe lăn suốt buổi hòa nhạc; cha tìm được một chỗ ngồi bên
cánh gà và có thể ngồi cạnh bà. Trước lúc đèn thính phòng tắt đi, cha và bà đã nói chuyện về
những địa danh và những người cả hai cùng biết đến. Khi dàn nhạc đang hiệu chỉnh, cha đã đọc
cho bà nghe chương trình hòa nhạc – tối nay người ta sẽ chơi nhạc của Vivadli, Bach, Dvorák
và Beethoven.
Rồi dàn nhạc bắt đầu biểu diễn. Trong suốt một tiếng rưỡi, Florence ngồi lặng thinh, chăm
chú hướng đôi mắt gần như đã mù lòa vào sân khấu và lắng nghe những âm thanh bà đã không
được nghe trong nhiều năm. Bà nở một nụ cười nhẹ, đôi tay đeo găng không hề rời khỏi bóp.
Cuối buổi hòa nhạc, khi những tràng vỗ tay kết thúc, bà hỏi cha có thể lấy cho bà bản copy tờ
chương trình không. Cha vẫn còn nhớ câu nói của bà: “Ta không thể đọc được, nhưng ta vẫn
thích giữ một cái”.
Rồi cha đưa bà về lại nhà điều dưỡng. Bà cảm ơn cha. Những người hộ lý đùa với bà và đẩy xe
lăn vào căn phòng sâm sẩm tối. Đôi găng-tay màu xanh chuối của bà nằm yên trên chiếc bóp,
và dưới chiếc bóp là bản copy tờ chương trình.
Tất cả câu chuyện chỉ có vậy. Và cha muốn kể cho con nghe câu chuyện thứ hai:
Mùa hè khi cha vừa tốt nghiệp trung học, cha làm việc cho một câu lạc bộ đồng quê cùng với
một người đàn ông tên Haines và con trai ông ta là Calbert. Ông Haines hồi ấy đã 60 tuổi,
gương mặt hiền lành. Calbert thì khoảng 25 hay 26 tuổi. Vì họ là người da đen nên phải ăn ở
tầng dưới, gần lò hơi thay vì phòng ăn trưa của nhân viên ở gần bếp. Cha thường mang thức ăn
xuống để ăn cùng với họ.
- Cậu không cần phải làm vậy đâu – Haines nói - Chẳng giúp ích gì đâu.
- Cháu làm vậy bởi cháu không đồng ý với hành động của họ. - Cha đáp lại.
- Thoải mái đi. - Haines nói. – Cũng chả ảnh hưởng gì cả.
Calbert chỉ cười và lắc đầu.
- Cậu đang tự làm mình rối tinh lên chẳng vì điều gì cả. - Anh ta nói trong lúc lôi ra một cái
bảng ghi điểm chơi bài kipbi(1). – Cậu thì làm được gì.
Ngày qua ngày, cha dõi theo Haines và Calbert. Cha nêu ý kiến bất bình với người quản lý và
với những nhân viên khác, nhưng chẳng thay đổi được gì. Có điều, chưa bao giờ cha nhìn thấy
Haines hay Calbert tỏ ra dù là một mảy may thù hằn hay giận dữ. Họ chỉ ăn trưa, chơi bài kipbi,
làm công việc lau dọn phòng thay quần áo nam và đánh bóng giày.
Vào cuối mỗi ngày, người ta đưa cho hai cha con một danh sách những đôi giày cần đánh
bóng để mang trong ngày hôm sau. Nhiều lần, lúc chuẩn bị ra về cha vẫn nhìn thấy họ cần mẫn
ngồi đánh giày, trong tiếng cười vọng lại của khách chơi goft từ phòng trên.
Một ngày, cha đọc một bài báo trên tờ báo địa phương có một vụ trộm đã xảy ra tại một CLB
đồng quê gần đó – không phải là CLB nơi Haines và Calbert làm việc, mà là một CLB khác nơi
cha đã từng làm chân nhặt bóng trước đó. Bài báo đăng tin một người đàn ông da đen đã bị bắn
chết khi đột nhập vào một phòng của khách.
Người đàn ông da đen đó là Calbert.
Tên cảnh sát đã bắn anh ta là người học trên cha mấy khóa ở trường trung học. Hắn ta là một
cảnh sát côn đồ; tất cả đều sợ hắn bởi vì hắn hay đánh người bằng dây xích và ống sắt. Theo
như bài báo, hắn đã được xác định là bắn để tự vệ, mặc dù viên đạn bắn vào lưng Calbert và
Calbert lúc đó không mang theo súng. Bởi vì không có bằng chứng nào được đưa ra cả, nên
chẳng thể dựa vào đâu để kết tội tên này.
Vô cùng giận dữ và thương tiếc, cha đã tìm gặp Haines. Ông ấy vẫn đang ngồi đánh giày.
- Calbert đã không cố ý giết ai cả. - Cha nói.
- Ta biết. - Haines trả lời trong khi khi luồn đoạn dây buộc giày mới vào đôi giày da màu
trắng.
- Cháu đã học cùng tên cảnh sát đó hồi trung học. - Cha tiếp tục nói. - Hắn ta là một tên côn
đồ và bây giờ thực sự là một kẻ sát nhân. Hắn đã bắn Calbert từ phía sau lưng.
- Ta biết. - Haines lặp lại.
- Tại sao ông không phản ứng gì cả? - Cha hét lên.
Haines nhìn thẳng vào cha. Đôi mắt của ông thật buồn.
- Calbert lẽ ra không nên ở đó. - Ông nói. Và ông chỉ nói có vậy.
Haines không đổ lỗi cho bất kỳ ai, dù cuộc đời ông ông đã gặp vô vàn đau khổ, dù sự bất công
và gian lận luôn vây quanh con trai ông cho tới tận hơi thở cuối cùng của cậu ấy. Chỉ là Calbert
không nên ở đấy.
Cha muốn phát điên vì giận. Cha không thể tin vào những gì mình vừa nghe được. Một người
đàn ông đã mất con trai mình trong một phát súng bất công của một kẻ sát nhân mặc đồng
phục công vụ, vậy mà đôi mắt công lý dường như không nhìn thấy. Và tại sao ông Haines lại có
thể làm ngơ trước sự bất công đến vậy?
Haines chỉ cười với cha và lắc đầu.
- Cậu đang tức giận. Ta biết. Ta cũng vô cùng tức giận. - Ông nói – Tên đó đã giết con trai ta.
Ta muốn nhìn thấy hắn sau song sắt nhà tù và ta sẽ cố để đưa hắn vào đó. Nhưng làm vậy cũng
chẳng thay đổi được những điều Calbert đã làm. Calbert bị bắn vì nó đã có mặt ở nơi nó không
thuộc về nó. Ta không thể làm gì để biến điều nó làm từ sai thành đúng. Nó lẽ ra không nên ở
đó.
Cha đứng chết lặng trước người đàn ông vừa mất con. Haines đang đau khổ, nhưng ông lại vô
cùng điềm tĩnh. Ông không biện minh hay điên cuồng với việc nuôi hy vọng trả thù. Ông không
có những hành động nông nổi vì nó chẳng giúp được gì ngoài việc làm cho đau thương chồng
chất đau thương. Ông đứng vững trên sự mạnh mẽ của mình, cố kiềm nén nỗi đau riêng.
Đó không phải là một sự hèn nhát, thụ động, mà là một tinh thần vô cùng mạnh mẽ. Haines
đã giữ được phong thái điềm tĩnh mà không phải ai trong hoàn cảnh ấy cũng làm được.
Nếu đặt cha trong hoàn cảnh ấy, cha nghĩ mình không thể mạnh mẽ như vậy. Nhưng Haines,
ở khía cạnh khác, lại không bao giờ đủ can đảm để đi đến nhà điều dưỡng và mời một người xa
lạ đi nghe hòa nhạc như cha từng làm. Ông chấp nhận một cuộc đời buồn tẻ cho chính bản thân
mình cũng như người khác.
Điều đó nói lên rằng, mỗi người đàn ông đều có một sức mạnh riêng. Có người chọn cuộc
sống bên cạnh bố mẹ già, có người quên đi khát vọng tự do riêng của bản thân để dành toàn bộ
cuộc đời trở thành người cha mẫu mực, có người cống hiến cả đời cho nghệ thuật, khoa học;
những người này đều có sức mạnh riêng mà không phải ai cũng nhìn thấy được.
Con cần tìm cho mình một sức mạnh riêng. Có một khuynh hướng mang tính bản năng rằng
con người luôn đồng nhất một cách sai lầm giữa sức mạnh và vũ lực, và luôn đo sức mạnh qua
những tình huống mang tính hành động. Chẳng hạn những hình ảnh ta thường thấy như việc
một người đàn leo lên một ngọn núi, hay đánh thắng kẻ xâm phạm. Chúng ta bị những người
đàn ông này thu hút vì họ đã vượt qua được sự sợ hãi, và tất nhiên đó là sức mạnh mà chúng ta
có thể dễ dàng nhìn thấy được.
Nhưng có những sức mạnh còn lớn hơn cả chuyện vượt qua...
Lời giới thiệu
Lời mở đầu
Bóng cha
Giới tính nam và đàn ông
Sức mạnh
Bài học về cái tôi
Tri thức và học hành
Công việc
Tài sản
Sẻ chia là một điều kỳ diệu
Tiền bạc và sự giàu có
Ma túy và bia rượu
Bi kịch và nỗi đau
Giao chiến
Chiến tranh
Hành trình tâm linh
Cô đơn và độc lập về tinh thần
Thể thao và thi đấu
Du hành
Những khoảnh khắc đặc biệt
Sức mạnh của sự quan tâm
Sự kỳ diệu của nghệ thuật
Phụ nữ và đàn ông
Điều kỳ diệu của tình yêu
Bí ẩn của tình dục
Nỗi ám ảnh của trái tim
Hôn nhân
Sự chung thủy
Tình cha con
Tuổi già
Cái chết
Lời kết
ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Cho con trai cha, Nick,
và tất cả những cậu con trai khác.
“Khi sinh ra chúng ta mang giới tính nam. Chúng ta phải học cách để trở thành một người đàn
ông.”
Lời giới thiệu
Tôi đã không định viết quyển sách này. Thế giới đã tồn tại quá nhiều giáo điều và các quan
điểm cá nhân, và tôi không có ý định bổ sung tên mình vào danh sách dài dằng dặc những con
người như vậy.
Vậy mà mọi thứ đã thay đổi khi tôi bước vào tuổi trung niên, khi tôi có một cậu con trai. Đột
nhiên, những thử thách tôi phải vật lộn trong suốt thời gian qua và vô vàn câu hỏi tôi đã chôn
vùi từ lâu bỗng hiện trở lại trong đôi mắt của con trai tôi. Tôi thấy trước mặt tôi là một cậu bé
đang phải lần dò tìm hướng đi riêng giữa mớ hỗn độn của cuộc sống. Lẽ dĩ nhiên, tôi phải gánh
vác trọng trách trở thành người dẫn đường cho con trai mình.
Việc dẫn đường của tôi đến giờ vẫn diễn ra khá thuận lợi. Cuộc sống của con trai tôi cho đến
nay vẫn chưa vượt ngoài tầm kiểm soát của nó. Tôi có thể nắm tay và dẫn đường cho con tôi.
Nhưng rồi đến một lúc nào đó nó cũng phải tự tìm đường đi cho bản thân. Vậy thì, nó sẽ tìm ở
đâu những bàn tay để dẫn lối cho mình?
Tôi nhìn mọi thứ và cảm thấy lo lắng. Cuộc sống là một mớ hỗn loạn bắt nguồn từ những
định kiến, quan điểm và các lời buộc tội trái ngược. Loài người ở khắp mọi nơi nhận ra rằng
thế giới mà chúng ta tạo ra cũng chính là thế giới mà chúng ta dần đánh mất, rằng những giấc
mơ tươi đẹp nhất và những nỗi sợ hãi kinh hoàng nhất đều thấp thoáng nơi chân trời. Tuy
nhận thức rõ ràng và sâu sắc về tất cả điều này, nhưng dường như chúng ta vẫn im lặng; chúng
ta vẫn cứ để cho niềm hy vọng dẫn mình đi tới, nhưng nhiều khi cũng để mặc những nghi ngờ
giữ mình đứng lặng thinh.
Tôi không thể chịu đựng sự lặng im này hơn nữa. Tôi muốn con trai mình trở thành một
người đàn ông có một trái tim thật lành lặn, nó phải tiến vào thế giới xung quanh với một tâm
hồn rộng mở và một cái chạm tay thật nhẹ nhàng. Tôi muốn nó trở thành người đàn ông có
lòng tin, nhưng không phải là người đàn ông hay phán xét. Tôi muốn con trai tôi khám phá
những chân trời đạo đức để nó sẽ không phải vô ý làm tổn thương bản thân nó hay những
người xung quanh. Để trở thành một người đàn ông như vậy, con tôi cần được nghe những lời
nói cảm thông, chia sẻ thực tế về những vấn đề nó sẽ gặp phải trên bước đường trưởng thành.
Vì vậy, tôi đã nỗ lực để gửi đến con trai mình một tiếng nói.
Trong quyển sách này, tôi đề cập đến những kỹ năng và trải nghiệm của mình: tình yêu dành
cho ngôn ngữ, niềm tin vào tầm nhìn tiến bộ của loài người, sự phức tạp của những nỗi sợ hãi,
nghi ngờ và thất vọng về thế giới mà chúng ta đang sống; nhiều năm học hành, hàng ngàn dặm
đi xa, một niềm tin vào những điều kỳ diệu vô tận của cuộc sống quanh mình.
Nhưng trên tất cả, tôi muốn chia sẻ với con trai mình và tất cả những cậu con trai khác về
lòng tin vào một thế giới tốt đẹp hơn.
Tôi muốn mang đến cho những cậu con trai cái nhìn của một người đàn ông đã nhận thức
được về thân phận và hiểu rõ về tiềm năng của con người. Và trong quá trình này, tôi cũng
muốn đem đến một cách nhìn khác cho những ai đang tìm kiếm một điểm tựa thích hợp để
quan sát thế giới bao la và kỳ diệu đang hiển hiện trước mắt mình.
- Kent Nerburn
Lời mở đầu
Ước mong của cha
Cha viết cuốn sách này với tư cách một người cha. Con sẽ không hiểu được điều này có ý nghĩa
như thế nào cho đến khi con cũng có con trai. Con chưa thấy được niềm vui và tình yêu vô bờ
đằng sau trái tim của một người cha khi nhìn đứa con trai của mình. Con cũng chưa hiểu được
niềm hân hoan tột cùng đã khiến một người đàn ông muốn vượt qua bản thân để có thể đặt vào
tay con trai mình những điều tốt đẹp và hy vọng nhất.
Trở thành một người cha là đặc ân đồng thời cũng là một gánh nặng. Có những điều mà một
đứa con trai phải được tiếp nhận từ chính người cha của mình, nếu không thì nó sẽ chẳng bao
giờ được hướng dẫn một cách rõ ràng. Đó là những cảm nhận về tuổi trưởng thành, giá trị của
bản thân và trách nhiệm với thế giới xung quanh.
Nhưng mà, làm sao để truyền đạt những điều này bằng ngôn ngữ? Chúng ta đang sống ở thời
điểm thật khó để bộc lộ những lời nói xuất phát từ trái tim. Cuộc sống của ta đang bị vô vàn
những điều tầm thường che lấp, những nghĩ suy và lo toan cơm áo đời thường đã làm mất đi
những khoảng lặng trong tâm hồn.
Vì vậy, cha phải nói thật với con điều này. Cha không có lời giải cho tất cả những thách thức
mà chúng ta phải đối mặt. Nhưng cha hiểu những thách thức này. Khi cha nhìn con chiến đấu,
khám phá và nỗ lực tiến lên phía trước, cha như thấy hình ảnh mình đang được phản chiếu
trong đôi mắt và những gì con đang trải nghiệm.
Cha cũng như con, phải học cách để đi, để chạy, cả để vấp ngã. Cha cũng có mối tình đầu. Cha
đã trải qua cảm giác sợ hãi, tức giận cũng như phiền muộn, và có nhiều lúc cha đã thấy ấm áp
khi bàn tay ai đó đang đặt lên vai mình. Cha cũng đã từng rơi những giọt nước mắt cho niềm vui
và cho cả nỗi buồn.
Cha đã từng trải qua cảm giác cô độc trước cuộc sống và không thiếu những khoảnh khắc
muốn bùng cơn thịnh nộ. Có những lúc cha cảm thấy mình không còn đủ sức để bước tiếp trên
cuộc đời, cha bước qua mọi người một cách hờ hững, ngay cả với những người đang cần cha
giúp đỡ.
Nhiều lúc cha thấy mình làm được nhiều điều hơn mình được yêu cầu, nhưng cũng có lúc cha
cảm thấy mình là một kẻ bất tài và thua cuộc. Dường như trong cha vừa có ánh sáng của sự vĩ
đại đồng thời cũng có bóng tối của những tội ác lương tâm.
Bởi vì, cha cũng là một người đàn ông, giống như con vậy.
Mặt trời sẽ chiếu sáng trên đầu con giống như nó đã chiếu trên đầu cha, và những bài học
trong cuộc sống sẽ đến với con giống như đã đến với cha, mặc dù con đường phía trước và thời
gian phía trước của cha và con không như nhau.
Và đó là những điều cuốn sách này sẽ đề cập đến. Cha muốn thông qua cuốn sách này mang
đến cho con những bài học cha đã trải qua, nhờ đó con sẽ áp dụng được cho cuộc sống của mình.
Nhưng nó không có nghĩa là con sẽ giống cha. Cha thật sự hạnh phúc nếu con được là chính con.
Thời gian sẽ mang đến sự thật, và sự thật thì luôn vĩ đại hơn bất kỳ điều gì trên thế giới này.
Trở thành cha của con là niềm vinh hạnh lớn nhất trong cuộc đời cha. Trong phút chốc cha
cảm thấy như mình đã chạm tay vào những điều thần bí, và nó khiến cha thấy tình yêu đang
ngày một mênh mông hơn. Nếu cha chỉ có một điều ước, cha ước mong con sẽ mang theo tình
yêu đó bên mình. Cuộc sống này còn cần gì hơn thế?
Yêu con,
Kent Nerburn
Bóng cha
Cha lớn lên với hình ảnh của ông con trong tâm trí. Tất cả những tính cách cũng như cuộc
sống của cha đều có dấu ấn của ông con.
Cha nhớ tấm lưng mạnh mẽ của ông con khi ông làm việc muộn mỗi tối, nhổ cỏ, cào đất hoặc
sơn tường,… mồ hôi ướt đẫm chảy dọc tấm lưng.
Cha nhớ bàn làm việc của ông dưới tầng hầm, nơi mỗi dụng cụ đều được sắp xếp gọn gàng và
các hộp đều được dán nhãn phân biệt.
Cha nhớ những cơn giận dữ tột cùng của ông, và những lần trò chuyện ngập ngừng giữa hai
cha con về giới tính.
Cha nhớ ông con rất cần cù và kiệm lời. Nhớ ông đã nỗ lực như thế nào để thông qua những
cuốn sách đạo đức mà dạy cho cha những điều ông ngại cất thành lời.
Và cha nhớ niềm tự hào lặng lẽ của ông khi các con trưởng thành và bắt đầu cuộc sống riêng.
Những điều này ông con không nhớ nhiều đâu. Trí nhớ ông đã kém rồi. Người đàn ông từng
đọc vanh vách địa chỉ của Lincoln ở Gettysburg bây giờ còn không thể nhớ nổi các ngày trong
tuần. Bàn làm việc của ông đã lung lay nhiều, những dụng cụ lâu ngày không ai đụng đến nằm
xếp chồng đầy bụi bặm trong xó nhà. Người đàn ông mạnh mẽ từng là trụ cột của gia đình giờ
đây bỗng trở nên nhỏ bé, chậm chạp trong từng cử chỉ và vụng về trong mỗi bước đi.
Cha cảm thấy rất buồn vì điều này. Trong nỗi buồn còn có niềm lo sợ. Mỗi ngày trôi qua cha
càng nhận ra rõ hơn hình ảnh ông đã sống trong cha nhiều thế nào, và cái bóng ông phủ xuống
cuộc đời cha mới vĩ đại làm sao.
Tất cả chúng ta đều giống nhau: không ai chạy trốn khỏi hình bóng của người cha, ngay cả
khi hình bóng ấy tràn ngập nỗi sợ hãi, ngay cả khi nó không có tên hay không định hình rõ
ràng. Cho dù chúng ta đang cố gắng để cảm thấy xứng đáng với cha mình, hay để chứng tỏ một
điều gì đó, hoặc thậm chí để quên đi mọi ký ức về cha mình – cho dù sức ảnh hưởng của cái
bóng người cha ra sao, chúng ta cũng không thể phủ nhận sự tồn tại của nó.
Cha thật may mắn. Dù có giận dữ đến đâu hay cô đơn tận đáy lòng, ông cũng không bao giờ
làm tổn thương đến cha. Bàn tay ông luôn đặt lên vai để động viên mỗi khi cha cần.
Tuy nhiên không phải ai cũng có một người cha tốt như vậy. Nhiều người phải sống và chịu
đựng trong một môi trường đầy bạo lực, tàn nhẫn, đầy mùi bia rượu, và mỗi đêm họ thường
phải thu mình vào góc tối trong tiếng chai lọ bị đập vỡ. Hay cũng có người, ký ức về cha với họ
chỉ là khoảng không trống trải. Nhưng dù thế nào thì tất cả chúng ta đều có ảnh hưởng từ
những hình bóng này. Ta sẽ trở thành ai và ta hy vọng thành người đàn ông như thế nào, phần
lớn có liên quan đến hình ảnh người cha trong trái tim mỗi chúng ta.
Cha bỗng nhìn thấy hình ảnh ông con hiện ra trước mắt mình. Ông đang đứng trên hành lang
tranh tối tranh sáng ở một căn hộ. Cha đứng ngay phía sau ông, lúc đó cha chỉ là đứa trẻ 10 tuổi
đang sợ sệt, rụt rè nhìn về phía cửa chính. Bên cạnh hai cha con là một chiếc xe đạp. Chiếc xe
đạp này là một “tay đua màu tía” (cha và ông gọi nó như vậy) có phanh tay, có thể sang số và là
chiếc xe đẹp nhất mà cha từng nhìn thấy. Ông và cha đang mang chiếc xe trả lại cho chủ của nó.
Ông con đã tìm thấy chiếc xe đạp này trong một buổi đi dạo sớm trên bãi biển. Ông đã cất nó
trong ga-ra nhà, bọc một lớp vải phủ. Ông không cho cha chạy nó, vì ông bảo rằng nó thuộc về
người khác. Chiếc xe ở trong ga-ra nhà hàng tuần lễ trong lúc ông đăng quảng cáo trên tờ báo
địa phương để tìm chủ nhân của nó. Cha đã thầm mơ ước rằng sẽ không có ai gọi điện đến để
cha có thể trở thành người sở hữu chiếc xe đó.
Nhưng người chủ chiếc xe đạp đã gọi điện.
Ông nội gõ cửa. Có tiếng mở cửa ken két. Một người đàn ông xuất hiện, nhìn lướt qua hai cha
con và hướng về phía chiếc xe. Ông ta kéo chiếc xe đến phía cửa và kiểm tra. Cha và ông đứng
ngay bên, chờ đợi.
- Xe có nhiều vết trầy mới. - Người đàn ông nói.
Ông con không trả lời.
Người đàn ông tiếp tục xoay bánh, kiểm tra ghi-đông. Ông ta nhìn ông con như muốn kết tội.
Lúc đó cha chỉ muốn hét lên với ông ta rằng chả có vết trầy nào cả, rằng nó đã được giữ cẩn
thận trong ga-ra.
Người đàn ông đẩy chiếc xe vào nhà và lẩm bẩm: “Tôi nghĩ là nên cho ông một thứ gì đó”. Sau
đó ông ta mang ra một tấm sec nhàu nát và ném nó về phía ông con. Ông con đã trả lại tấm séc.
Ông ta nhìn chằm chằm vào hai cha con và sau cùng quay trở vào nhà để xem xét chiếc xe.
Ông và cha cũng quay ra. Trên đường đi, cha níu lấy áo ông hỏi:
- Tại sao chúng ta lại đối xử tốt với hắn ta vậy? Hắn ta thật vô ơn.
Ông con vẫn tiếp tục bước đi:
- Có thể một ngày nào đó, anh ta cũng sẽ đối xử tốt như vậy với một người khác.
Cha đuổi theo ông xuyên qua ánh sáng màu vàng rực. Hai cha con không bao giờ nhắc về
chuyện chiếc xe nữa.
Rồi hình ảnh này trở nên nhạt phai, lùi xa và bị thay thế bằng một hình ảnh khác.
Đó là hình ảnh của nhiều năm về sau. Lúc đó cha đang ghé thăm một nhà tù địa phương để
thực hiện một vài công việc hành chính lặt vặt. Lúc đang ngồi trong phòng đợi, cha bỗng để ý
thấy trên danh sách tù nhân có tên người học trò cũ của cha. Anh này bị bắt vì chứng nghiệm
rượu và phá hoại tài sản công cộng. Đây không phải là lần đầu tiên anh ta bị bắt.
Trước giờ cha vẫn luôn yêu mến người học trò này, một phần cũng vì hoàn cảnh của anh ta:
cậu ta là trẻ mồ côi. Sau đó, cha xin được gặp cậu ta.
Cha được đưa đến một căn phòng bằng xi-măng, loang lổ bên trong là thứ ánh sáng yếu ớt
của đèn huỳnh quang.
- Đợi ở đây nhé. - Người quản ngục nói.
Rồi ông ta dẫn người học trò vào.
- Chào Chris. - Cha nói.
Chris không trả lời. Đôi mắt cậu ta đầy sợ hãi.
- Người này hơi hung dữ nên phải nhốt một mình. Đợi một lúc để anh ta làm quen với ánh
sáng đã. Người quản ngục phân trần.
Chris nhìn cha. Môi anh ta run run.
- Làm ơn đừng để họ đưa tôi vào đây nữa. - Đôi mắt cậu ta trông giống hệt đôi mắt một đứa
trẻ đầy sợ hãi.
- Làm ơn! - Anh ta lặp lại một lần nữa. Cha chưa từng nghe Chris nói “làm ơn” với bất kỳ ai.
Cha nhìn Chris một lúc lâu. Cha chỉ nhìn thấy đôi mắt sợ hãi của cậu ta.
Cha liên hệ với người quản lý trại giam và trả tiền bảo lãnh cho Chris. Họ mang quần áo đến
cho cậu ta. Cha ký vào một vài tờ giấy và đưa cậu ta ra xe. Cha mua cho Chris một cái ham-bơgơ, sau đó chở cậu ta đến ngôi nhà mà cậu ta yêu cầu. Trên đường đi, Chris huyên thuyên với
cha đủ thứ chuyện, giọng nói đầy vẻ ngông cuồng và nghênh ngang không khác gì ngày trước.
Khi cha dừng xe lại, cậu ta ngay lập tức nhảy ra khỏi xe và nói: « Bye nhé ». Từ đó cha không
bao giờ gặp cậu ta nữa.
Ngày hôm sau cha kể cho một người bạn nghe về Chris. Bạn cha nổi giận:
- Không thể tin được cậu lại làm vậy. Cậu đã để nó ép buộc cậu, như nó đã ép buộc bao nhiêu
người khác. Lẽ ra cậu nên để nó chết dần chết mòn trong tù mới phải. Như vậy nó mới học
được bài học rằng không phải lúc nào cũng có thể khua môi múa mép được. Sao cậu lại có thể
ngốc nghếch đến vậy cơ chứ?
Cha nói:
- Có thể một ngày nào đó, anh ta cũng sẽ đối xử tốt như vậy với một người khác.
Bạn của cha lắc đầu và quay trở lại công việc của anh ấy.
Ở một nơi nào đó, cha biết ông con đang nhìn cha và mỉm cười.
Giới tính nam và đàn ông
Cha muốn kể cho con nghe đôi chút về ông con. Ông không phải là một người phi thường,
nhưng ông là một người tốt, luôn sống vui vẻ và sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi họ cần.
Vậy mà mười năm trở lại đây cha đã chứng kiến cảnh ông con đang dần đánh mất những
niềm vui trong cuộc sống. Bên cạnh việc suy giảm sức khỏe, ông dường như còn bị mất toàn bộ
ý thức về giá trị bản thân và không còn tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống nữa.
Điều gì đã xảy ra? Làm sao một người đàn ông từng khỏe mạnh lại trở nên ốm yếu như vậy?
Tại sao ông lại sớm bỏ cuộc khi cuộc đời vẫn còn ở phía trước?
Ông đã sống như một người đàn ông mà ông muốn trở thành - để tỏa sáng hơn, mạnh mẽ
hơn, kiếm nhiều tiền hơn. Ông vào đời bươn chải từ năm 16 tuổi, và những gì ông đạt được
dường như vượt hơn cả điều ông mong dợi. Ông đã tự khẳng định mình, tìm cho mình một chỗ
đứng trong xã hội và xây dựng nên một gia đình hạnh phúc. Điều gì đã khiến ông không đánh
giá cao những thành quả mình đạt được? Tại sao một người đàn ông khởi đầu từ con số không
và đạt được nhiều thành quả như ông lại cảm thấy mình không xứng đáng là một người đàn
ông?
Câu trả lời tuy khó nghe nhưng rất rõ ràng. Bởi vì ông con đã nhầm lẫn giữa việc mang giới
tính nam và là một người đàn ông.
Giới tính nam là một phần của hệ thống sinh học của chúng ta, bao gồm sức mạnh, sự thống
trị, sở hữu, cạnh tranh và hàng loạt đặc tính khác tồn tại trong thời kỳ mông muội – thời kì lấy
việc thống trị làm nền tảng cho sự tồn tại của loài người.
Điều này có nhiều điểm khác biệt so với việc là một người đàn ông. Một người đàn ông sẽ
mang những đặc trưng của giới tính nam và định hình chúng vào cuộc sống để giúp ích cho
đời. Đó là hành động mang tính phục vụ.
Thế giới khi ông con được sinh ra không cho phép ông nhìn thấy sự khác biệt giữa giới tính
nam và đàn ông. Ông đã phải tự đấu tranh để sống còn trong thế giới đầy biến động. Ông đã
chịu khổ cực từ khi mới sinh ra và sớm là một đứa trẻ mồ côi. Để có thức ăn ông phải làm việc
chăm chỉ, đánh đổi bằng chính sức lực của mình. Khi xảy ra chiến tranh với Đức quốc xã và chủ
nghĩa phát xít, ông phải cầm súng ra chiến trường. Chiến tranh kết thúc, ông con trở về tay
không, rồi sau đó xây dựng gia đình.
Từ tuổi ấu thơ, ông con đã phải sống trong một thế giới mà con người nếu muốn tồn tại thì
phải trở thành người chiến thắng. Vì vậy không có gì ngạc nhiên nếu những cảm nhận của ông
con về đàn ông gắn liền với sự thống trị và quyền điều khiển của giới tính nam.
Thế nên bây giờ, khi cơ thể ông không còn sức mạnh, cảm giác về sự thống trị và quyền điều
khiển đã bị thay thế bằng cảm giác phụ thuộc, ông cảm thấy cuộc sống không còn mục đích và
ý nghĩa. Đánh mất công việc, sức mạnh thể chất, khả năng giới tính cũng như khả năng kiểm
soát những chuyện xung quanh, người đàn ông trong ông như bị đánh bại.
Ông con là một người đàn ông thực thụ, cha cảm nhận được điều này vì là con trai của ông.
Cha nhìn thấy người đàn ông đó từng nhiều ngày không ngủ để giúp đỡ những người bị mất
nhà vì hỏa hoạn và lũ lụt. Cha nhìn thấy người đàn ông đó làm đến hai, ba công việc cùng một
lúc để có tiền mua quà Giáng sinh cho các con và luôn đặt nhu cầu của mình sau cùng. Cha nhìn
thấy người đàn ông đó đã mang sức mạnh của mình phục vụ cho sứ mệnh của sự quan tâm và
chia sẻ... Vì vậy mà trong mắt cha, không có gì có thể làm giảm bớt nam tính của ông con.
Ông là người đàn ông tuyệt vời. Nhưng ông không thể nhìn thấy điều này. Ông sống trong
thời điểm không có sự phân biệt giữa giới tính nam và đàn ông, vì vậy mà ông đã tự đo mình
bằng những chuẩn mực xưa cũ.
Nhưng bây giờ mọi việc đã thay đổi.
Con sinh ra ở một thế giới khác, thế giới sẽ mang đến cho con những món quà cũng như
những thách thức khác. Cái nhìn mới về người đàn ông không còn gắn chặt với biểu tượng của
một chiến binh. Những cách thức con tìm kiếm để thể hiện sức mạnh, sự điều khiển và phô bày
lòng can đảm sẽ không còn giống như việc con phải đương đầu với thế giới có những kẻ thù
như trước kia.
Hiểu một cách sâu xa hơn, con sẽ phải tìm đường đi cho riêng mình, sẽ không có một luật tục
nào dẫn dắt con cả. Ta không được dẫn đường để trở thành đàn ông, mà chúng ta phải tự tìm
con đường riêng của mình.
Khi cơ thể chúng ta bảo với ta rằng ta đã trưởng thành, đó là khi chúng ta đã nảy sinh ham
muốn và tham vọng không giới hạn. Ta nghĩ ta đã trở thành đàn ông, nhưng chỉ là giới tính
nam của ta đã phát triển đầy đủ. Vậy nên khi giới tính nam phát triển chưa đạt đến giá trị đạo
đức, nó đã sinh ra những tội ác trên thế giới.
Cha muốn con phải để ý đến sự khác biệt này khi con tiến vào cuộc sống. Chỉ mang giới tính
nam thì không đủ. Là một người đàn ông mới là điều con cần theo đuổi và là niềm vinh dự con
cần trân trọng. Cha không thể chỉ cho con cách để theo đuổi quyền lợi và xứng đáng với niềm
vinh dự này. Nhưng cha có thể giúp con hiểu rằng việc con trở thành người đàn ông như thế
nào sẽ bị hình mẫu về người đàn ông mà con cho là vĩ đại nhất chi phối.
Trong quá trình con hướng đến nhận thức về người đàn ông con muốn trở thành sau này,
những tiếng vang vọng của giới tính nam sẽ luôn văng vẳng bên tai con. Âm thanh của sự đấu
tranh, thống trị, những thèm khát nhục dục và tham vọng tiến xa hơn sẽ luôn thì thầm bên con.
Nhưng nếu con có thể thay đổi chúng, những thuộc tính bản năng này sẽ trở thành những
thước đo thật sự cho tuổi trưởng thành của con – đó là sức mạnh, tư cách và đạo đức; sự can
đảm, đức hy sinh và lòng tự tin của chính con.
Vì vậy, con hãy hiểu về những đặc tính nam giới của con và trân trọng chúng. Hãy sử dụng
chúng nhưng đừng để chúng lấn át con. Trên hết, đừng trở thành con mồi của những niềm tin
sai lầm rằng điều khiển và thống trị là đồng nghĩa với nam tính.
Hãy để sự vĩ đại của con thể hiện không chỉ qua khả năng được phát huy hết, mà còn là tấm
lòng nhân ái dành cho những người chung quanh. Bây giờ, thế giới cần những tấm lòng nhân ái,
chứ không phải là những hành động chiếm đoạt. Con hãy là một trong số những tấm lòng nhân
ái ấy.
Sức mạnh
Một ngày nọ, cha nhìn thấy một đám trẻ đang xô đẩy một cậu bé bên ngoài một cửa hàng địa
phương. Dù tỏ thái độ sẵn sàng đánh trả những kẻ tấn công mình, nhưng rõ ràng cậu bé đang
sợ hãi. Đám trẻ vây lấy cậu, chế giễu và thách cậu đánh lại chúng. Sau đó chúng nhảy lên người
và đánh cậu tới tấp.
Cuộc tấn công chỉ dừng lại khi một người đàn ông đi ngang qua ngăn chúng lại. Đám trẻ nhìn
ông ta rồi lẩn đi. Cậu bé được giải thoát nhưng chưa thực sự an toàn. Đám trẻ vẫn có thể sẽ đợi
để bắt nạt cậu vào một ngày khác, ở một nơi khác.
Cha không biết nguyên nhân của cuộc ẩu đả này. Nhưng cha chắc rằng chẳng có lý do gì đặc
biệt. Có thể cậu bé đó đã có một lời nói hay hành động làm phật ý đám trẻ. Qua cuộc ẩu đả, cha
nhận thấy rằng con người chúng ta dù sống trong xã hội nào cũng luôn muốn chứng tỏ cho
người khác biết về sức mạnh bản thân. Ý thức về sức mạnh thể chất này đã tồn tại trong hệ
thống sinh học của chúng ta như một điều đầy ý nghĩa, và ngay cả người vĩ đại nhất cũng cảm
nhận được sự chuyển động của nó sâu bên trong cơ thể. Đó là những tàn dư còn sót lại từ thời
kỳ săn bắn và tự vệ trước thiên nhiên, khi sức mạnh thể chất trở thành thước đo về sự thành
công của người đàn ông.
Chúng ta có thể nâng một vật cao hơn, mang vác được nhiều hơn, chạy nhanh hơn, làm việc
lâu hơn, chứng tỏ chúng ta giỏi hơn.
Chúng ta có thể đánh bại người khác, chứng tỏ chúng ta mạnh hơn.
Chúng ta có thể không rơi nước mắt ủy mị dù trải qua niềm vui hoặc nỗi buồn, chứng tỏ
chúng ta là người mạnh mẽ.
Tuy nhiên, thế giới bây giờ không còn bị đo bằng nguyên tắc thể hiện sức mạnh. Bây giờ
chúng ta cần sức mạnh tinh thần hơn sức mạnh thể chất.
Cha sẽ kể con nghe câu chuyện mà cha từng gặp.
Một lần, cha có hai chiếc vé xem hòa nhạc, nhưng cha không biết mời ai đi cùng.
Cuối cùng, cha quyết định lái xe đến một nhà điều dưỡng trong vùng. Cha lên phòng hộ lý ở
tầng 2, tìm gặp người hộ lý trưởng và nói về ý định của mình.
Các cô hộ lý đưa mắt nhìn nhau rồi bắt đầu nhắc đến những cái tên bệnh nhân, nào là Edna,
Florance, Joe… Sau vài phút họ dẫn cha đến phòng của Edna.
- Không, tôi không đi đâu. - Edna trả lời, vẻ e ngại.
Mọi người đi qua phòng Florence. Bà đang ngồi trên xe lăn, hai tay đặt lên vạt áo. Bà đã 80
tuổi, đôi mắt dường như đã bị lòa.
- Florence này, người đàn ông trẻ này có một cặp vé xem hòa nhạc tối nay. Ông ấy hỏi liệu bà
có muốn đi cùng không? - Cô hộ lý cất lời.
Cha đã bật cười vì câu nói của cô.
– Nhà điều dưỡng là nơi duy nhất mà tôi còn được gọi là “người đàn ông trẻ”. - Cha vui vẻ
đùa.
Florance hướng cặp kính dầy cộp của bà về phía cha:
– Chắc chắn rồi. - Bà nói. - Đi nào. Lâu lắm rồi ta không hẹn một ai.
Cha và Florence nói chuyện thêm một lúc về buổi hòa nhạc và những trở ngại bà có thể gặp
khi lên xuống xe ô-tô. Cha hẹn thời gian đến đón bà.
7 giờ 30 tối, cha quay trở lại nhà điều dưỡng. Florence đã mặc xong quần áo và đang ngồi
trên xe lăn trong bóng tối. Bà mang găng-tay bằng vải co-ton màu xanh chuối, tay nắm chặt
một chiếc bóp nhỏ. Cha chào các cô hộ lý và cả hai đi ra xe.
Mọi việc đã diễn ra tốt đẹp. Florence không gặp trở ngại gì khi lên xuống xe. Nhân viên tại
khu hòa nhạc đã giúp cha đưa Florence vào thính phòng và nán lại với bà một lúc trong khi cha
tìm chỗ đỗ xe.
Florence đã quyết định ngồi trên xe lăn suốt buổi hòa nhạc; cha tìm được một chỗ ngồi bên
cánh gà và có thể ngồi cạnh bà. Trước lúc đèn thính phòng tắt đi, cha và bà đã nói chuyện về
những địa danh và những người cả hai cùng biết đến. Khi dàn nhạc đang hiệu chỉnh, cha đã đọc
cho bà nghe chương trình hòa nhạc – tối nay người ta sẽ chơi nhạc của Vivadli, Bach, Dvorák
và Beethoven.
Rồi dàn nhạc bắt đầu biểu diễn. Trong suốt một tiếng rưỡi, Florence ngồi lặng thinh, chăm
chú hướng đôi mắt gần như đã mù lòa vào sân khấu và lắng nghe những âm thanh bà đã không
được nghe trong nhiều năm. Bà nở một nụ cười nhẹ, đôi tay đeo găng không hề rời khỏi bóp.
Cuối buổi hòa nhạc, khi những tràng vỗ tay kết thúc, bà hỏi cha có thể lấy cho bà bản copy tờ
chương trình không. Cha vẫn còn nhớ câu nói của bà: “Ta không thể đọc được, nhưng ta vẫn
thích giữ một cái”.
Rồi cha đưa bà về lại nhà điều dưỡng. Bà cảm ơn cha. Những người hộ lý đùa với bà và đẩy xe
lăn vào căn phòng sâm sẩm tối. Đôi găng-tay màu xanh chuối của bà nằm yên trên chiếc bóp,
và dưới chiếc bóp là bản copy tờ chương trình.
Tất cả câu chuyện chỉ có vậy. Và cha muốn kể cho con nghe câu chuyện thứ hai:
Mùa hè khi cha vừa tốt nghiệp trung học, cha làm việc cho một câu lạc bộ đồng quê cùng với
một người đàn ông tên Haines và con trai ông ta là Calbert. Ông Haines hồi ấy đã 60 tuổi,
gương mặt hiền lành. Calbert thì khoảng 25 hay 26 tuổi. Vì họ là người da đen nên phải ăn ở
tầng dưới, gần lò hơi thay vì phòng ăn trưa của nhân viên ở gần bếp. Cha thường mang thức ăn
xuống để ăn cùng với họ.
- Cậu không cần phải làm vậy đâu – Haines nói - Chẳng giúp ích gì đâu.
- Cháu làm vậy bởi cháu không đồng ý với hành động của họ. - Cha đáp lại.
- Thoải mái đi. - Haines nói. – Cũng chả ảnh hưởng gì cả.
Calbert chỉ cười và lắc đầu.
- Cậu đang tự làm mình rối tinh lên chẳng vì điều gì cả. - Anh ta nói trong lúc lôi ra một cái
bảng ghi điểm chơi bài kipbi(1). – Cậu thì làm được gì.
Ngày qua ngày, cha dõi theo Haines và Calbert. Cha nêu ý kiến bất bình với người quản lý và
với những nhân viên khác, nhưng chẳng thay đổi được gì. Có điều, chưa bao giờ cha nhìn thấy
Haines hay Calbert tỏ ra dù là một mảy may thù hằn hay giận dữ. Họ chỉ ăn trưa, chơi bài kipbi,
làm công việc lau dọn phòng thay quần áo nam và đánh bóng giày.
Vào cuối mỗi ngày, người ta đưa cho hai cha con một danh sách những đôi giày cần đánh
bóng để mang trong ngày hôm sau. Nhiều lần, lúc chuẩn bị ra về cha vẫn nhìn thấy họ cần mẫn
ngồi đánh giày, trong tiếng cười vọng lại của khách chơi goft từ phòng trên.
Một ngày, cha đọc một bài báo trên tờ báo địa phương có một vụ trộm đã xảy ra tại một CLB
đồng quê gần đó – không phải là CLB nơi Haines và Calbert làm việc, mà là một CLB khác nơi
cha đã từng làm chân nhặt bóng trước đó. Bài báo đăng tin một người đàn ông da đen đã bị bắn
chết khi đột nhập vào một phòng của khách.
Người đàn ông da đen đó là Calbert.
Tên cảnh sát đã bắn anh ta là người học trên cha mấy khóa ở trường trung học. Hắn ta là một
cảnh sát côn đồ; tất cả đều sợ hắn bởi vì hắn hay đánh người bằng dây xích và ống sắt. Theo
như bài báo, hắn đã được xác định là bắn để tự vệ, mặc dù viên đạn bắn vào lưng Calbert và
Calbert lúc đó không mang theo súng. Bởi vì không có bằng chứng nào được đưa ra cả, nên
chẳng thể dựa vào đâu để kết tội tên này.
Vô cùng giận dữ và thương tiếc, cha đã tìm gặp Haines. Ông ấy vẫn đang ngồi đánh giày.
- Calbert đã không cố ý giết ai cả. - Cha nói.
- Ta biết. - Haines trả lời trong khi khi luồn đoạn dây buộc giày mới vào đôi giày da màu
trắng.
- Cháu đã học cùng tên cảnh sát đó hồi trung học. - Cha tiếp tục nói. - Hắn ta là một tên côn
đồ và bây giờ thực sự là một kẻ sát nhân. Hắn đã bắn Calbert từ phía sau lưng.
- Ta biết. - Haines lặp lại.
- Tại sao ông không phản ứng gì cả? - Cha hét lên.
Haines nhìn thẳng vào cha. Đôi mắt của ông thật buồn.
- Calbert lẽ ra không nên ở đó. - Ông nói. Và ông chỉ nói có vậy.
Haines không đổ lỗi cho bất kỳ ai, dù cuộc đời ông ông đã gặp vô vàn đau khổ, dù sự bất công
và gian lận luôn vây quanh con trai ông cho tới tận hơi thở cuối cùng của cậu ấy. Chỉ là Calbert
không nên ở đấy.
Cha muốn phát điên vì giận. Cha không thể tin vào những gì mình vừa nghe được. Một người
đàn ông đã mất con trai mình trong một phát súng bất công của một kẻ sát nhân mặc đồng
phục công vụ, vậy mà đôi mắt công lý dường như không nhìn thấy. Và tại sao ông Haines lại có
thể làm ngơ trước sự bất công đến vậy?
Haines chỉ cười với cha và lắc đầu.
- Cậu đang tức giận. Ta biết. Ta cũng vô cùng tức giận. - Ông nói – Tên đó đã giết con trai ta.
Ta muốn nhìn thấy hắn sau song sắt nhà tù và ta sẽ cố để đưa hắn vào đó. Nhưng làm vậy cũng
chẳng thay đổi được những điều Calbert đã làm. Calbert bị bắn vì nó đã có mặt ở nơi nó không
thuộc về nó. Ta không thể làm gì để biến điều nó làm từ sai thành đúng. Nó lẽ ra không nên ở
đó.
Cha đứng chết lặng trước người đàn ông vừa mất con. Haines đang đau khổ, nhưng ông lại vô
cùng điềm tĩnh. Ông không biện minh hay điên cuồng với việc nuôi hy vọng trả thù. Ông không
có những hành động nông nổi vì nó chẳng giúp được gì ngoài việc làm cho đau thương chồng
chất đau thương. Ông đứng vững trên sự mạnh mẽ của mình, cố kiềm nén nỗi đau riêng.
Đó không phải là một sự hèn nhát, thụ động, mà là một tinh thần vô cùng mạnh mẽ. Haines
đã giữ được phong thái điềm tĩnh mà không phải ai trong hoàn cảnh ấy cũng làm được.
Nếu đặt cha trong hoàn cảnh ấy, cha nghĩ mình không thể mạnh mẽ như vậy. Nhưng Haines,
ở khía cạnh khác, lại không bao giờ đủ can đảm để đi đến nhà điều dưỡng và mời một người xa
lạ đi nghe hòa nhạc như cha từng làm. Ông chấp nhận một cuộc đời buồn tẻ cho chính bản thân
mình cũng như người khác.
Điều đó nói lên rằng, mỗi người đàn ông đều có một sức mạnh riêng. Có người chọn cuộc
sống bên cạnh bố mẹ già, có người quên đi khát vọng tự do riêng của bản thân để dành toàn bộ
cuộc đời trở thành người cha mẫu mực, có người cống hiến cả đời cho nghệ thuật, khoa học;
những người này đều có sức mạnh riêng mà không phải ai cũng nhìn thấy được.
Con cần tìm cho mình một sức mạnh riêng. Có một khuynh hướng mang tính bản năng rằng
con người luôn đồng nhất một cách sai lầm giữa sức mạnh và vũ lực, và luôn đo sức mạnh qua
những tình huống mang tính hành động. Chẳng hạn những hình ảnh ta thường thấy như việc
một người đàn leo lên một ngọn núi, hay đánh thắng kẻ xâm phạm. Chúng ta bị những người
đàn ông này thu hút vì họ đã vượt qua được sự sợ hãi, và tất nhiên đó là sức mạnh mà chúng ta
có thể dễ dàng nhìn thấy được.
Nhưng có những sức mạnh còn lớn hơn cả chuyện vượt qua...
 





